Truy cập

Hôm nay:
47
Hôm qua:
154
Tuần này:
498
Tháng này:
2919
Tất cả:
82767

Đề cuong luật trợ giúp pháp ly

Ngày 04/12/2018 15:29:34

Đề cương

ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU

LUẬT TRỢ GIÚP PHÁP LÝ NĂM 2017


Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 (thay thế cho Luật TGPL năm 2006); Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 12/7/2017 (Lệnh số 11/2017/L-CTN) Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT

Ngày 29/6/2006, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Trợ giúp pháp lý (TGPL), tạo cơ sở pháp lý quan trọng thúc đẩy công tác TGPL phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu TGPL, góp phần nâng cao nhận thức của người dân về pháp luật nói chung, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nghèo, đối tượng chính sách và người có hoàn cảnh khó khăn nói riêng.

Trước yêu cầu phát triển của đất nước, triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, nhiều đạo luật quan trọng mới được Quốc hội ban hành, nhiều chính sách cải cách được thông qua nhằm tăng cường cải cách pháp luật, cải cách tư pháp theo định hướng của Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và yêu cầu chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, hoạt động TGPL đã bộc lộ hạn chế, bất cập sau:

Thứ nhất, diện người được TGPL còn chưa đầy đủ; quy định về người được TGPL chưa hợp lý, tản mạn ở nhiều văn bản do có sự thay đổi, bổ sung chính sách an sinh xã hội (Nghị định hướng dẫn Luật TGPL, các Luật có liên quan ban hành sau Luật TGPL quy định về người được TGPL gồm nạn nhân bị mua bán theo Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011, người khuyết tật theo Luật Người khuyết tật năm 2010, trẻ em theo Luật Trẻ em năm 2016). Hơn nữa, quy định người được TGPL cũng chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tiễn và tinh thần Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 và các điều ước quốc tế liên quan khác mà Việt Nam là thành viên. Mặt khác, khoảng cách trong việc tiếp cận pháp luật có sự chênh lệch, một số đối tượng khó khăn về tài chính không có điều kiện chi trả cho các dịch vụ pháp lý nhưng chưa được tiếp cận dịch vụ TGPL để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Thứ hai, hoạt động TGPL có bản chất là giúp đỡ các đối tượng yếu thế giải quyết các vụ việc cụ thể khi họ phải đối mặt với pháp luật chưa được quan tâm đúng mức; còn lẫn lộn với các hoạt động khác, nhiều lúc TGPL được thực hiện một cách dàn trải, thậm chí mang tính chất phong trào. Một nguồn lực lớn của Nhà nước (nguồn lực con người và tài chính) dành cho các hoạt động như tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua sinh hoạt Câu lạc bộ TGPL, TGPL lưu động. Trong khi đó, số lượng vụ việc TGPL được thực hiện bằng các hình thức như tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, tư vấn pháp luật tại trụ sở và tư vấn tiền tố tụng là những yêu cầu thiết thực và đúng bản chất của TGPL thì còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn.

Thứ ba, chất lượng vụ việc TGPL nhiều lúc còn chưa được bảo đảm; chất lượng dịch vụ TGPL chưa được xã hội đánh giá cao, chưa ngang bằng với dịch vụ pháp lý có thu phí do luật sư cung cấp. Chất lượng một số vụ việc tham gia tố tụng còn yếu, chưa có nhiều vụ việc TGPL được thực hiện từ giai đoạn điều tra hình sự, vụ việc TGPL tố tụng dân sự, tố tụng hành chính còn khá hạn chế; cơ chế quản lý chất lượng, việc kiểm tra, giám sát, đánh giá chất lượng vụ việc TGPL chưa được chú trọng, còn hình thức, hiệu quả chưa cao.

Hoạt động TGPL chưa chuyên nghiệp; quy định về điều kiện, tiêu chuẩn của Trợ giúp viên pháp lý chưa tương đương với luật sư trong khi dịch vụ mà họ cung cấp không khác so với luật sư là chưa phù hợp với yêu cầu thực tiễn và thông lệ quốc tế (chưa có quy định phải trải qua thời gian tập sự TGPL và kiểm tra kết quả tập sự TGPL); tiêu chuẩn, điều kiện của cộng tác viên TGPL khác (ngoài luật sư) còn thấp, chưa đồng đều. Số lượng vụ việc tham gia tố tụng do Trợ giúp viên pháp lý thực hiện với tư cách là lực lượng chuyên trách còn thấp (chiếm khoảng 30% tổng số vụ việc tham gia tố tụng), vẫn còn Trợ giúp viên pháp lý thiếu kỹ năng, kinh nghiệm hành nghề, lúng túng khi tham gia tố tụng.

Thứ tư, thực tế vẫn còn hiện tượng chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu TGPL do thiếu nguồn lực thực hiện (thiếu luật sư hoặc Trợ giúp viên pháp lý có kinh nghiệm để giải quyết vụ việc hoặc thiếu kinh phí chi trả cho vụ việc), nhất là ở vùng sâu, vùng xa, các tỉnh chưa tự cân đối ngân sách nên vẫn bỏ sót người được TGPL có nhu cầu. Trong khi đó, quy định của pháp luật hiện hành chưa có cơ chế điều phối nguồn lực giữa các địa phương, do vậy quyền được TGPL của một bộ phận người dân chưa được bảo đảm trên thực tế.

Thứ năm, tổ chức bộ máy TGPL còn cồng kềnh, hiệu quả huy động sự tham gia của xã hội còn hạn chế: Bộ máy, tổ chức của một số Trung tâm còn cồng kềnh, nhiều Chi nhánh được thành lập nhưng thiếu nguồn lực bảo đảm hoặc kết quả hoạt động không cao; việc đầu tư kinh phí bảo đảm cho công tác TGPL chưa tương xứng với nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra, hiệu quả sử dụng kinh phí của các tổ chức TGPL nhà nước trong thời gian qua chưa hợp lý. Còn thiếu các chính sách ưu đãi, hỗ trợ nên chưa tạo được động lực cho các tổ chức, cá nhân trong xã hội thực hiện dịch vụ TGPL (như chưa có cơ chế hỗ trợ kinh phí cho các tổ chức tham gia TGPL…), do đó việc huy động các nguồn lực xã hội tham gia TGPL còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu thực tế.

Thứ sáu, quy trình, thủ tục tiếp nhận và thực hiện TGPL chưa tạo thuận lợi cho người được TGPL; chưa ứng dụng công nghệ thông tin; chưa quy định thời hạn trả lời yêu cầu TGPL; việc tiếp nhận yêu cầu TGPL của người được TGPL từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác chưa được điều chỉnh ở văn bản luật. Mặt khác, quy định thời hạn cử người thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng chưa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL; chưa có quy định giảm bớt các thủ tục hành chính đối với những trường hợp khẩn cấp phải được TGPL ngay (như người bị bắt theo Bộ luật Tố tụng hình sự).

II. MỤC TIÊU CHÍNH SÁCH, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT

1. Mục tiêu chính sách

Khắc phục hạn chế, bất cập trong hoạt động TGPL; đồng bộ, thống nhất với Hiến pháp năm 2013 và các Luật được Quốc hội ban hành gần đây để phát triển bền vững công tác TGPL; sử dụng hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước; nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL; bảo đảm sự hội nhập quốc tế, nội luật hóa các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

2. Các quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật Trợ giúp pháp lý

Luật TGPL được xây dựng dựa trên các quan điểm chỉ đạo sau:

Thứ nhất, thể chế hóa đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về các chính sách xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, dân tộc và quan điểm về quyền con người, quyền công dân trong giai đoạn phát triển mới;

Thứ hai, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, đặc biệt là bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội; nguyên tắc tranh tụng trong xét xử; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các luật có liên quan, nhất là các bộ luật, luật về tố tụng, tổ chức bộ máy và ngân sách;

Thứ ba, lấy quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL làm trung tâm; bảo đảm chất lượng dịch vụ TGPL theo hướng chuẩn hóa đội ngũ thực hiện TGPL, nâng cao các điều kiện, tiêu chuẩn đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý; không thu hút những người không đủ tiêu chuẩn thực hiện TGPL; huy động các nguồn lực xã hội tham gia thực hiện TGPL tự nguyện;

Thứ tư, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về TGPL, tinh gọn tổ chức thực hiện TGPL của Nhà nước; Nhà nước bảo đảm tính bền vững của công tác TGPL theo hướng kiểm soát chặt chẽ chất lượng dịch vụ TGPL, đề cao hiệu quả sử dụng ngân sách và khuyến khích sự đóng góp, hỗ trợ tài chính của xã hội cho hoạt động TGPL;

Thứ năm, nghiên cứu luật hóa một số định hướng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Đề án đổi mới công tác TGPL giai đoạn 2015-2025; kế thừa các quy định còn phù hợp và khắc phục bất cập của Luật TGPL năm 2006;

Thứ sáu, luật hóa những quy định từ văn bản dưới luật mà thực tiễn áp dụng có kết quả tích cực; tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm nước ngoài phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước, tiếp tục nội luật hóa các quy định của điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên.

III. BỐ CỤC CỦA LUẬT

Luật TGPL được bố cục thành 8 chương, 48 điều (giảm 04 Điều):

- Chương I: Những quy định chung gồm 6 điều (từ Điều 1 đến Điều 6) gồm các quy định về phạm vi điều chỉnh, khái niệm TGPL, nguyên tắc hoạt động TGPL, chính sách của Nhà nước về TGPL, nguồn tài chính cho công tác TGPL, các hành vi bị nghiêm cấm.

- Chương II: Người được TGPL, quyền và nghĩa vụ của người được TGPL gồm 3 điều (từ Điều 7 đến Điều 9) gồm các quy định diện người được TGPL, quyền, nghĩa vụ của người được TGPL.

- Chương III: Tổ chức thực hiện TGPL, quyền và nghĩa vụ của tổ chức thực hiện TGPL gồm 7 điều (từ Điều 10 đến Điều 16) quy định về tổ chức thực hiện TGPL, quyền và nghĩa vụ của tổ chức thực hiện TGPL, Trung tâm TGPL nhà nước, hợp đồng thực hiện TGPL, đăng ký tham gia TGPL, chấm dứt thực hiện TGPL của tổ chức tham gia TGPL.

- Chương IV: Người thực hiện TGPL, quyền và nghĩa vụ của người thực hiện TGPL gồm 9 điều (từ Điều 17 đến Điều 25) quy định về người thực hiện TGPL, quyền và nghĩa vụ của người thực hiện TGPL, tiêu chuẩn Trợ giúp viên pháp lý, tập sự TGPL, bổ nhiệm, cấp thẻ, miễn nhiệm và thu hồi thẻ Trợ giúp viên pháp lý, cấp lại thẻ Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên TGPL, các trường hợp không được tiếp tục thực hiện hoặc từ chối thực hiện TGPL.

- Chương V: Phạm vi, lĩnh vực, hình thức và hoạt động TGPL gồm 14 điều (từ Điều 26 đến Điều 39) quy định về phạm vi thực hiện TGPL, lĩnh vực, hình thức TGPL, địa điểm tiếp người được TGPL, yêu cầu TGPL, thụ lý vụ việc TGPL, tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng, phối hợp xác minh vụ việc TGPL, chuyển yêu cầu TGPL, kiến nghị trong hoạt động TGPL, trường hợp không tiếp tục thực hiện vụ việc TGPL, lập; lưu trữ hồ sơ vụ việc.

- Chương VI: Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức đối với hoạt động TGPL gồm 5 điều (từ Điều 40 đến Điều 44) quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về TGPL, trách nhiệm của các cơ quan liên quan đến hoạt động TGPL trong tố tụng và các cơ quan có liên quan, của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức chủ quản của tổ chức tư vấn pháp luật.

- Chương VII: Giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp gồm 02 điều (Điều 45 và Điều 46) quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp.

- Chương VIII: Điều khoản thi hành gồm 02 điều (Điều 47 và Điều 48) quy định về chuyển tiếp và hiệu lực thi hành.

IV. NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA LUẬT

1. Luật đã có sự phân biệt TGPL và dịch vụ pháp lý thiện nguyện của các tổ chức xã hội

Hoạt động TGPL cần tuân theo quy định của Luật này về đối tượng TGPL, tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện, hình thức, lĩnh vực TGPL… Các tổ chức, cá nhân thực hiện TGPL cần bảo đảm đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện nhằm bảo đảm chất lượng dịch vụ TGPL. Việc tham gia TGPL của các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật được thực hiện thông qua cơ chế ký hợp đồng thực hiện TGPL và đăng ký tham gia TGPL. Việc cung cấp dịch vụ pháp lý thiện nguyện của xã hội (theo Luật Luật sư, Nghị định số 77/2008/NĐ-CP về tư vấn pháp luật) không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này.

2. Mở rộng diện người được TGPL

Việc xác định người được TGPL dựa trên nguyên tắc kế thừa những đối tượng hiện đang được TGPL, phù hợp với các chính sách đặc thù, điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam. So với Luật TGPL năm 2006, diện người được TGPL đã được mở rộng (từ 06 diện người lên 14 diện người). Theo đó, 02 đối tượng được kế thừa hoàn toàn từ Luật TGPL năm 2006 là người thuộc hộ nghèo và người có công với cách mạng; 02 đối tượng được kế thừa và mở rộng là trẻ em không nơi nương tựa thành tất cả trẻ em, người dân tộc thiểu số "thường trú" thành "cư trú" tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (cư trú sẽ rộng hơn thường trú vì cư trú bao gồm thường trú và tạm trú).

Luật bổ sung 02 nhóm là người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi (hiện thuộc trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa theo Bộ luật Tố tụng hình sự) và người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo để bảo đảm chính sách hình sự đối với các nhóm đối tượng này. Luật có quy định mới trong việc áp dụng điều kiện có khó khăn về tài chính đối với 08 nhóm người như tại khoản 7 Điều 7 để cung cấp cho những người thực sự có nhu cầu nhưng không có khả năng tài chính để thuê dịch vụ pháp lý. Chính phủ sẽ quy định chi tiết về điều kiện có khó khăn về tài chính áp dụng với các nhóm người này phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội theo từng thời kỳ phát triển của đất nước.

Có thể nói, với việc triển khai hiệu quả Luật TGPL, đáp ứng được đầy đủ, chất lượng nhu cầu TGPL của các diện người được quy định trong Luật cũng sẽ góp phần thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.

3. Bổ sung nguồn tài chính cho công tác TGPL

Luật TGPL quy định nguồn tài chính cho công tác TGPL bao gồm nguồn ngân sách nhà nước, đóng góp, tài trợ của tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước, nguồn hợp pháp khác. Nhà nước bố trí kinh phí trong dự toán ngân sách hằng năm của cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về TGPL theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. Đối với các tỉnh chưa tự cân đối được ngân sách, Luật quy định việc ưu tiên bố trí ngân sách từ số bổ sung cân đối ngân sách nhà nước để hỗ trợ thực hiện vụ việc TGPL phức tạp, điển hình. Đây là điểm mới quan trọng, khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm cho người thuộc diện được TGPL được giúp đỡ pháp lý khi họ có các vụ việc TGPL cụ thể, đồng thời nhằm khắc phục phục phần nào tình trạng bỏ sót nhu cầu TGPL của người dân tại các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách.

4. Nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL

Để thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL, Luật TGPL quy định chuẩn hóa đội ngũ người thực hiện TGPL, quy định tiêu chuẩn đối với tổ chức tham gia TGPL theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa:

- Về tổ chức tham gia TGPL: Để khắc phục tình trạng tham gia TGPL một cách hình thức, không hiệu quả của các tổ chức xã hội, Luật TGPL quy định các điều kiện cụ thể để tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật tham gia TGPL. Đặc biệt, để ký hợp đồng với các tổ chức có điều kiện tốt nhất cung cấp dịch vụ TGPL Sở Tư pháp sẽ tổ chức lựa chọn theo một quy trình chặt chẽ phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương. Hơn nữa, Luật có cơ chế trả thù lao cho các tổ chức ký hợp đồng thực hiện TGPL nhằm khuyến khích sự tham gia TGPL có chất lượng hơn của các tổ chức này.

- Về người thực hiện TGPL: Luật đã chuẩn hóa, nâng cao tiêu chuẩn Trợ giúp viên pháp lý tương đương với luật sư; bổ sung tiêu chuẩn phải qua tập sự nghề (tập sự TGPL hoặc tập sự hành nghề luật sư) để Trợ giúp viên pháp lý có thời gian tập sự vận dụng kiến thức, kỹ năng trước khi được cung cấp và chịu trách nhiệm về về dịch vụ TGPL. Chế định cộng tác viên TGPL được kế thừa trên cơ sở có chọn lọc những người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ về pháp luật, có kinh nghiệm và có thể chủ động về thời gian để bảo đảm tham gia công tác TGPL một cách thực chất, có hiệu quả tại vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn.

Như vậy, không phải bất kỳ tổ chức, cá nhân nào có nguyện vọng đều được cung cấp dịch vụ TGPL như Luật năm 2006. Theo Luật TGPL năm 2017, để được cung cấp dịch vụ TGPL, các tổ chức, cá nhân cần đáp ứng yêu cầu, điều kiện tối thiểu do Luật định để bảo đảm chất lượng dịch vụ họ cung cấp cho người được TGPL. Trên cơ sở điều kiện thực tế của địa phương và các quy định trong Luật, Sở Tư pháp và Trung tâm TGPL nhà nước sẽ lựa chọn trong số các tổ chức, cá nhân có nguyện vọng thực hiện TGPL để ký hợp đồng thực hiện TGPL. Với những quy định chặt chẽ về điều kiện để các tổ chức, cá nhân trực tiếp thực hiện TGPL, Nhà nước đã thể hiện cam kết mạnh mẽ trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý có chất lượng cho người nghèo, đối tượng chính sách và các đối yếu thế khác trong xã hội.

5. Nâng cao vai trò của Sở Tư pháp

Vai trò của Sở Tư pháp trong việc tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về TGPL địa phương được nâng lên thông qua việc quản lý, đánh giá hoạt động của Trung tâm TGPL nhà nước và nắm bắt yêu cầu TGPL tại địa phương lựa chọn các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật có nguyện vọng, có điều kiện tốt nhất, quyết định việc ký hợp đồng thực hiện TGPL; thực hiện trách nhiệm đăng tải công khai một số thông tin có liên quan theo quy định của Luật đ cơ quan, tổ chức, cá nhân dễ dàng khai thác, tiếp cận và sử dụng.

6. Tập trung thực hiện vụ việc TGPL

Luật TGPL đi đúng bản chất đó là thực hiện các vụ việc nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL, chỉ thực hiện TGPL khi có vụ việc cụ thể. Hình thức thực hiện TGPL được quy định theo đúng bản chất và yêu cầu của công tác TGPL: Luật TGPL đã kế thừa Luật TGPL năm 2006 và quy định 03 hình thức TGPL, bao gồm: tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật và đại diện ngoài tố tụng mà không quy định “các hình thức TGPL khác” đ tránh tình trạng lạm dụng, thực hiện dàn trải như trươc đây gây lãng phí nguồn lực dành cho TGPL mà không đạt được mục đích chính của TGPL là bảo vệ quyền lợi của người dân trong các vụ việc cụ thể. Luật cũng đặt ra yêu cầu đối với đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý là viên chức nhà nước tập trung thực hiện vụ việc tố tụng thông qua quy định Trợ giúp viên pháp lý không thực hiện vụ việc tham gia tố tụng trong thời gian 02 năm liên tục sẽ bị miễn nhiệm, trừ trường hợp do nguyên nhân khách quan.

7. Tạo thuận lợi hơn cho người được TGPL

Luật có nhiều quy định mới đ tạo thuận lợi cho người dân tiếp cận và sử dụng dịch vụ, như: Quy định phải công bố danh sách người thực hiện TGPL, tổ chức thực hiện TGPL đ người dân biết và thực hiện quyền lựa chọn của mình. Ngoài hình thức nộp đơn trực tiếp, gửi qua đường bưu điện, người dân có thể nộp đơn yêu cầu qua hình thức điện tử, fax đ tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại; trong các tình huống cụ thể nếu gặp trường hợp cần được TGPL mà đối tượng có khó khăn không thể tự mình đến tổ chức thực hiện TGPL thì các tổ chức, cá nhân có thể thay mặt người được TGPL yêu cầu TGPL.

Luật TGPL năm 2017 quy định trường hợp thụ lý giải quyết ngay khi người yêu cầu chưa thể cung cấp hồ sơ theo quy định đ bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL, đó là các trường hợp vụ việc sắp hết thời hiệu, sắp đến ngày xét xử, hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của người thuộc diện được TGPL có nguy cơ bị thiệt hại.

8. Tăng cường trách nhiệm của cơ quan, tổ chức đối với hoạt động TGPL

Luật TGPL bổ sung một số quy định nhằm tăng cường trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức đối với hoạt động TGPL như sau:

- Quy định rõ trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng phối hợp tạo điều kiện cho người được TGPL được hưởng quyền TGPL, tạo điều kiện cho người thực hiện TGPL tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật. Trong thời hạn 12 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu trợ giúp pháp lý của người bị bắt, người bị tạm giữ hoặc trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu trợ giúp pháp lý của bị can, bị cáo, người bị hại là người được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về tố tụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tại địa phương. Đây là những nội dung quan trọng trong bối cảnh Bộ luật Tố tụng hình sự quy định việc chỉ định người bào chữa mở rộng cho những bị can, bị cáo về tội có khung hình phạt là 20 năm tù thì số lượng vụ việc được giới thiệu từ cơ quan tiến hành tố tụng sang Trung tâm TGPL nhà nước sẽ tăng lên.

- Đối với các cơ quan nhà nước có liên quan, Luật quy định trong quá trình thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của mình nếu phát hiện công dân thuộc diện được TGPL, cơ quan nhà nước có trách nhiệm giải thích quyền được TGPL và giới thiệu đến tổ chức thực hiện TGPL.

- Quy định trách nhiệm các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức chủ quản của tổ chức tư vấn pháp luật trong hoạt động TGPL.

9. Sắp xếp, tinh gọn các Chi nhánh của Trung tâm TGPL của Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động

Từ tổng kết thực tiễn thi hành Luật TGPL năm 2006, đ phù hợp với Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị, các quy định về Chi nhánh có sự điều chỉnh đ bảo đảm tinh gọn tổ chức, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả nguồn nhân lực và kinh phí dành cho TGPL tại các địa phương. Chi nhánh đã được thành lập theo Luật TGPL năm 2006 sẽ được rà soát, sắp xếp lại, sáp nhập hoặc giải thể bảo đảm hiệu quả hoạt động. Trường hợp thực sự cần thiết đ đáp ứng nhu cầu của nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập mới Chi nhánh. Điều kiện thành lập mới Chi nhánh được quy định chặt chẽ, theo đó, Chi nhánh chỉ được thành lập tại các huyện vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, giao thông không thuận tiện đến Trung tâm TGPL nước, chưa có tổ chức hành nghề luật sư; tổ chức tư vấn pháp luật tham gia TGPL.

Ngoài các nội dung trên đây, Luật TGPL năm 2017 còn pháp điển hóa một số quy định trong các văn bản dưới luật trong Luật TGPL liên quan đến người thực hiện TGPL; tổ chức thực hiện TGPL lĩnh vực TGPL và hoạt động TGPL. Luật cũng chuẩn hóa quyền, nghĩa vụ của các chủ thể; sửa đổi, bổ sung nguyên tắc hoạt động TGPL; chính sách của Nhà nước về TGPL; không quy định Quỹ TGPL; bổ sung một số hành vi bị nghiêm cấm.

V. TỔ CHỨC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN LUẬT

Đề cuong luật trợ giúp pháp ly

Đăng lúc: 04/12/2018 15:29:34 (GMT+7)

Đề cương

ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU

LUẬT TRỢ GIÚP PHÁP LÝ NĂM 2017


Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 (thay thế cho Luật TGPL năm 2006); Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 12/7/2017 (Lệnh số 11/2017/L-CTN) Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT

Ngày 29/6/2006, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Trợ giúp pháp lý (TGPL), tạo cơ sở pháp lý quan trọng thúc đẩy công tác TGPL phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu TGPL, góp phần nâng cao nhận thức của người dân về pháp luật nói chung, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nghèo, đối tượng chính sách và người có hoàn cảnh khó khăn nói riêng.

Trước yêu cầu phát triển của đất nước, triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, nhiều đạo luật quan trọng mới được Quốc hội ban hành, nhiều chính sách cải cách được thông qua nhằm tăng cường cải cách pháp luật, cải cách tư pháp theo định hướng của Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và yêu cầu chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, hoạt động TGPL đã bộc lộ hạn chế, bất cập sau:

Thứ nhất, diện người được TGPL còn chưa đầy đủ; quy định về người được TGPL chưa hợp lý, tản mạn ở nhiều văn bản do có sự thay đổi, bổ sung chính sách an sinh xã hội (Nghị định hướng dẫn Luật TGPL, các Luật có liên quan ban hành sau Luật TGPL quy định về người được TGPL gồm nạn nhân bị mua bán theo Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011, người khuyết tật theo Luật Người khuyết tật năm 2010, trẻ em theo Luật Trẻ em năm 2016). Hơn nữa, quy định người được TGPL cũng chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tiễn và tinh thần Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 và các điều ước quốc tế liên quan khác mà Việt Nam là thành viên. Mặt khác, khoảng cách trong việc tiếp cận pháp luật có sự chênh lệch, một số đối tượng khó khăn về tài chính không có điều kiện chi trả cho các dịch vụ pháp lý nhưng chưa được tiếp cận dịch vụ TGPL để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Thứ hai, hoạt động TGPL có bản chất là giúp đỡ các đối tượng yếu thế giải quyết các vụ việc cụ thể khi họ phải đối mặt với pháp luật chưa được quan tâm đúng mức; còn lẫn lộn với các hoạt động khác, nhiều lúc TGPL được thực hiện một cách dàn trải, thậm chí mang tính chất phong trào. Một nguồn lực lớn của Nhà nước (nguồn lực con người và tài chính) dành cho các hoạt động như tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua sinh hoạt Câu lạc bộ TGPL, TGPL lưu động. Trong khi đó, số lượng vụ việc TGPL được thực hiện bằng các hình thức như tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, tư vấn pháp luật tại trụ sở và tư vấn tiền tố tụng là những yêu cầu thiết thực và đúng bản chất của TGPL thì còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn.

Thứ ba, chất lượng vụ việc TGPL nhiều lúc còn chưa được bảo đảm; chất lượng dịch vụ TGPL chưa được xã hội đánh giá cao, chưa ngang bằng với dịch vụ pháp lý có thu phí do luật sư cung cấp. Chất lượng một số vụ việc tham gia tố tụng còn yếu, chưa có nhiều vụ việc TGPL được thực hiện từ giai đoạn điều tra hình sự, vụ việc TGPL tố tụng dân sự, tố tụng hành chính còn khá hạn chế; cơ chế quản lý chất lượng, việc kiểm tra, giám sát, đánh giá chất lượng vụ việc TGPL chưa được chú trọng, còn hình thức, hiệu quả chưa cao.

Hoạt động TGPL chưa chuyên nghiệp; quy định về điều kiện, tiêu chuẩn của Trợ giúp viên pháp lý chưa tương đương với luật sư trong khi dịch vụ mà họ cung cấp không khác so với luật sư là chưa phù hợp với yêu cầu thực tiễn và thông lệ quốc tế (chưa có quy định phải trải qua thời gian tập sự TGPL và kiểm tra kết quả tập sự TGPL); tiêu chuẩn, điều kiện của cộng tác viên TGPL khác (ngoài luật sư) còn thấp, chưa đồng đều. Số lượng vụ việc tham gia tố tụng do Trợ giúp viên pháp lý thực hiện với tư cách là lực lượng chuyên trách còn thấp (chiếm khoảng 30% tổng số vụ việc tham gia tố tụng), vẫn còn Trợ giúp viên pháp lý thiếu kỹ năng, kinh nghiệm hành nghề, lúng túng khi tham gia tố tụng.

Thứ tư, thực tế vẫn còn hiện tượng chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu TGPL do thiếu nguồn lực thực hiện (thiếu luật sư hoặc Trợ giúp viên pháp lý có kinh nghiệm để giải quyết vụ việc hoặc thiếu kinh phí chi trả cho vụ việc), nhất là ở vùng sâu, vùng xa, các tỉnh chưa tự cân đối ngân sách nên vẫn bỏ sót người được TGPL có nhu cầu. Trong khi đó, quy định của pháp luật hiện hành chưa có cơ chế điều phối nguồn lực giữa các địa phương, do vậy quyền được TGPL của một bộ phận người dân chưa được bảo đảm trên thực tế.

Thứ năm, tổ chức bộ máy TGPL còn cồng kềnh, hiệu quả huy động sự tham gia của xã hội còn hạn chế: Bộ máy, tổ chức của một số Trung tâm còn cồng kềnh, nhiều Chi nhánh được thành lập nhưng thiếu nguồn lực bảo đảm hoặc kết quả hoạt động không cao; việc đầu tư kinh phí bảo đảm cho công tác TGPL chưa tương xứng với nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra, hiệu quả sử dụng kinh phí của các tổ chức TGPL nhà nước trong thời gian qua chưa hợp lý. Còn thiếu các chính sách ưu đãi, hỗ trợ nên chưa tạo được động lực cho các tổ chức, cá nhân trong xã hội thực hiện dịch vụ TGPL (như chưa có cơ chế hỗ trợ kinh phí cho các tổ chức tham gia TGPL…), do đó việc huy động các nguồn lực xã hội tham gia TGPL còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu thực tế.

Thứ sáu, quy trình, thủ tục tiếp nhận và thực hiện TGPL chưa tạo thuận lợi cho người được TGPL; chưa ứng dụng công nghệ thông tin; chưa quy định thời hạn trả lời yêu cầu TGPL; việc tiếp nhận yêu cầu TGPL của người được TGPL từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác chưa được điều chỉnh ở văn bản luật. Mặt khác, quy định thời hạn cử người thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng chưa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL; chưa có quy định giảm bớt các thủ tục hành chính đối với những trường hợp khẩn cấp phải được TGPL ngay (như người bị bắt theo Bộ luật Tố tụng hình sự).

II. MỤC TIÊU CHÍNH SÁCH, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT

1. Mục tiêu chính sách

Khắc phục hạn chế, bất cập trong hoạt động TGPL; đồng bộ, thống nhất với Hiến pháp năm 2013 và các Luật được Quốc hội ban hành gần đây để phát triển bền vững công tác TGPL; sử dụng hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước; nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL; bảo đảm sự hội nhập quốc tế, nội luật hóa các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

2. Các quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật Trợ giúp pháp lý

Luật TGPL được xây dựng dựa trên các quan điểm chỉ đạo sau:

Thứ nhất, thể chế hóa đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về các chính sách xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, dân tộc và quan điểm về quyền con người, quyền công dân trong giai đoạn phát triển mới;

Thứ hai, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, đặc biệt là bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội; nguyên tắc tranh tụng trong xét xử; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các luật có liên quan, nhất là các bộ luật, luật về tố tụng, tổ chức bộ máy và ngân sách;

Thứ ba, lấy quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL làm trung tâm; bảo đảm chất lượng dịch vụ TGPL theo hướng chuẩn hóa đội ngũ thực hiện TGPL, nâng cao các điều kiện, tiêu chuẩn đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý; không thu hút những người không đủ tiêu chuẩn thực hiện TGPL; huy động các nguồn lực xã hội tham gia thực hiện TGPL tự nguyện;

Thứ tư, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về TGPL, tinh gọn tổ chức thực hiện TGPL của Nhà nước; Nhà nước bảo đảm tính bền vững của công tác TGPL theo hướng kiểm soát chặt chẽ chất lượng dịch vụ TGPL, đề cao hiệu quả sử dụng ngân sách và khuyến khích sự đóng góp, hỗ trợ tài chính của xã hội cho hoạt động TGPL;

Thứ năm, nghiên cứu luật hóa một số định hướng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Đề án đổi mới công tác TGPL giai đoạn 2015-2025; kế thừa các quy định còn phù hợp và khắc phục bất cập của Luật TGPL năm 2006;

Thứ sáu, luật hóa những quy định từ văn bản dưới luật mà thực tiễn áp dụng có kết quả tích cực; tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm nước ngoài phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước, tiếp tục nội luật hóa các quy định của điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên.

III. BỐ CỤC CỦA LUẬT

Luật TGPL được bố cục thành 8 chương, 48 điều (giảm 04 Điều):

- Chương I: Những quy định chung gồm 6 điều (từ Điều 1 đến Điều 6) gồm các quy định về phạm vi điều chỉnh, khái niệm TGPL, nguyên tắc hoạt động TGPL, chính sách của Nhà nước về TGPL, nguồn tài chính cho công tác TGPL, các hành vi bị nghiêm cấm.

- Chương II: Người được TGPL, quyền và nghĩa vụ của người được TGPL gồm 3 điều (từ Điều 7 đến Điều 9) gồm các quy định diện người được TGPL, quyền, nghĩa vụ của người được TGPL.

- Chương III: Tổ chức thực hiện TGPL, quyền và nghĩa vụ của tổ chức thực hiện TGPL gồm 7 điều (từ Điều 10 đến Điều 16) quy định về tổ chức thực hiện TGPL, quyền và nghĩa vụ của tổ chức thực hiện TGPL, Trung tâm TGPL nhà nước, hợp đồng thực hiện TGPL, đăng ký tham gia TGPL, chấm dứt thực hiện TGPL của tổ chức tham gia TGPL.

- Chương IV: Người thực hiện TGPL, quyền và nghĩa vụ của người thực hiện TGPL gồm 9 điều (từ Điều 17 đến Điều 25) quy định về người thực hiện TGPL, quyền và nghĩa vụ của người thực hiện TGPL, tiêu chuẩn Trợ giúp viên pháp lý, tập sự TGPL, bổ nhiệm, cấp thẻ, miễn nhiệm và thu hồi thẻ Trợ giúp viên pháp lý, cấp lại thẻ Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên TGPL, các trường hợp không được tiếp tục thực hiện hoặc từ chối thực hiện TGPL.

- Chương V: Phạm vi, lĩnh vực, hình thức và hoạt động TGPL gồm 14 điều (từ Điều 26 đến Điều 39) quy định về phạm vi thực hiện TGPL, lĩnh vực, hình thức TGPL, địa điểm tiếp người được TGPL, yêu cầu TGPL, thụ lý vụ việc TGPL, tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng, phối hợp xác minh vụ việc TGPL, chuyển yêu cầu TGPL, kiến nghị trong hoạt động TGPL, trường hợp không tiếp tục thực hiện vụ việc TGPL, lập; lưu trữ hồ sơ vụ việc.

- Chương VI: Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức đối với hoạt động TGPL gồm 5 điều (từ Điều 40 đến Điều 44) quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về TGPL, trách nhiệm của các cơ quan liên quan đến hoạt động TGPL trong tố tụng và các cơ quan có liên quan, của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức chủ quản của tổ chức tư vấn pháp luật.

- Chương VII: Giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp gồm 02 điều (Điều 45 và Điều 46) quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp.

- Chương VIII: Điều khoản thi hành gồm 02 điều (Điều 47 và Điều 48) quy định về chuyển tiếp và hiệu lực thi hành.

IV. NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA LUẬT

1. Luật đã có sự phân biệt TGPL và dịch vụ pháp lý thiện nguyện của các tổ chức xã hội

Hoạt động TGPL cần tuân theo quy định của Luật này về đối tượng TGPL, tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện, hình thức, lĩnh vực TGPL… Các tổ chức, cá nhân thực hiện TGPL cần bảo đảm đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện nhằm bảo đảm chất lượng dịch vụ TGPL. Việc tham gia TGPL của các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật được thực hiện thông qua cơ chế ký hợp đồng thực hiện TGPL và đăng ký tham gia TGPL. Việc cung cấp dịch vụ pháp lý thiện nguyện của xã hội (theo Luật Luật sư, Nghị định số 77/2008/NĐ-CP về tư vấn pháp luật) không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này.

2. Mở rộng diện người được TGPL

Việc xác định người được TGPL dựa trên nguyên tắc kế thừa những đối tượng hiện đang được TGPL, phù hợp với các chính sách đặc thù, điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam. So với Luật TGPL năm 2006, diện người được TGPL đã được mở rộng (từ 06 diện người lên 14 diện người). Theo đó, 02 đối tượng được kế thừa hoàn toàn từ Luật TGPL năm 2006 là người thuộc hộ nghèo và người có công với cách mạng; 02 đối tượng được kế thừa và mở rộng là trẻ em không nơi nương tựa thành tất cả trẻ em, người dân tộc thiểu số "thường trú" thành "cư trú" tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (cư trú sẽ rộng hơn thường trú vì cư trú bao gồm thường trú và tạm trú).

Luật bổ sung 02 nhóm là người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi (hiện thuộc trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa theo Bộ luật Tố tụng hình sự) và người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo để bảo đảm chính sách hình sự đối với các nhóm đối tượng này. Luật có quy định mới trong việc áp dụng điều kiện có khó khăn về tài chính đối với 08 nhóm người như tại khoản 7 Điều 7 để cung cấp cho những người thực sự có nhu cầu nhưng không có khả năng tài chính để thuê dịch vụ pháp lý. Chính phủ sẽ quy định chi tiết về điều kiện có khó khăn về tài chính áp dụng với các nhóm người này phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội theo từng thời kỳ phát triển của đất nước.

Có thể nói, với việc triển khai hiệu quả Luật TGPL, đáp ứng được đầy đủ, chất lượng nhu cầu TGPL của các diện người được quy định trong Luật cũng sẽ góp phần thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.

3. Bổ sung nguồn tài chính cho công tác TGPL

Luật TGPL quy định nguồn tài chính cho công tác TGPL bao gồm nguồn ngân sách nhà nước, đóng góp, tài trợ của tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước, nguồn hợp pháp khác. Nhà nước bố trí kinh phí trong dự toán ngân sách hằng năm của cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về TGPL theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. Đối với các tỉnh chưa tự cân đối được ngân sách, Luật quy định việc ưu tiên bố trí ngân sách từ số bổ sung cân đối ngân sách nhà nước để hỗ trợ thực hiện vụ việc TGPL phức tạp, điển hình. Đây là điểm mới quan trọng, khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm cho người thuộc diện được TGPL được giúp đỡ pháp lý khi họ có các vụ việc TGPL cụ thể, đồng thời nhằm khắc phục phục phần nào tình trạng bỏ sót nhu cầu TGPL của người dân tại các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách.

4. Nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL

Để thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL, Luật TGPL quy định chuẩn hóa đội ngũ người thực hiện TGPL, quy định tiêu chuẩn đối với tổ chức tham gia TGPL theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa:

- Về tổ chức tham gia TGPL: Để khắc phục tình trạng tham gia TGPL một cách hình thức, không hiệu quả của các tổ chức xã hội, Luật TGPL quy định các điều kiện cụ thể để tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật tham gia TGPL. Đặc biệt, để ký hợp đồng với các tổ chức có điều kiện tốt nhất cung cấp dịch vụ TGPL Sở Tư pháp sẽ tổ chức lựa chọn theo một quy trình chặt chẽ phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương. Hơn nữa, Luật có cơ chế trả thù lao cho các tổ chức ký hợp đồng thực hiện TGPL nhằm khuyến khích sự tham gia TGPL có chất lượng hơn của các tổ chức này.

- Về người thực hiện TGPL: Luật đã chuẩn hóa, nâng cao tiêu chuẩn Trợ giúp viên pháp lý tương đương với luật sư; bổ sung tiêu chuẩn phải qua tập sự nghề (tập sự TGPL hoặc tập sự hành nghề luật sư) để Trợ giúp viên pháp lý có thời gian tập sự vận dụng kiến thức, kỹ năng trước khi được cung cấp và chịu trách nhiệm về về dịch vụ TGPL. Chế định cộng tác viên TGPL được kế thừa trên cơ sở có chọn lọc những người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ về pháp luật, có kinh nghiệm và có thể chủ động về thời gian để bảo đảm tham gia công tác TGPL một cách thực chất, có hiệu quả tại vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn.

Như vậy, không phải bất kỳ tổ chức, cá nhân nào có nguyện vọng đều được cung cấp dịch vụ TGPL như Luật năm 2006. Theo Luật TGPL năm 2017, để được cung cấp dịch vụ TGPL, các tổ chức, cá nhân cần đáp ứng yêu cầu, điều kiện tối thiểu do Luật định để bảo đảm chất lượng dịch vụ họ cung cấp cho người được TGPL. Trên cơ sở điều kiện thực tế của địa phương và các quy định trong Luật, Sở Tư pháp và Trung tâm TGPL nhà nước sẽ lựa chọn trong số các tổ chức, cá nhân có nguyện vọng thực hiện TGPL để ký hợp đồng thực hiện TGPL. Với những quy định chặt chẽ về điều kiện để các tổ chức, cá nhân trực tiếp thực hiện TGPL, Nhà nước đã thể hiện cam kết mạnh mẽ trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý có chất lượng cho người nghèo, đối tượng chính sách và các đối yếu thế khác trong xã hội.

5. Nâng cao vai trò của Sở Tư pháp

Vai trò của Sở Tư pháp trong việc tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về TGPL địa phương được nâng lên thông qua việc quản lý, đánh giá hoạt động của Trung tâm TGPL nhà nước và nắm bắt yêu cầu TGPL tại địa phương lựa chọn các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật có nguyện vọng, có điều kiện tốt nhất, quyết định việc ký hợp đồng thực hiện TGPL; thực hiện trách nhiệm đăng tải công khai một số thông tin có liên quan theo quy định của Luật đ cơ quan, tổ chức, cá nhân dễ dàng khai thác, tiếp cận và sử dụng.

6. Tập trung thực hiện vụ việc TGPL

Luật TGPL đi đúng bản chất đó là thực hiện các vụ việc nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL, chỉ thực hiện TGPL khi có vụ việc cụ thể. Hình thức thực hiện TGPL được quy định theo đúng bản chất và yêu cầu của công tác TGPL: Luật TGPL đã kế thừa Luật TGPL năm 2006 và quy định 03 hình thức TGPL, bao gồm: tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật và đại diện ngoài tố tụng mà không quy định “các hình thức TGPL khác” đ tránh tình trạng lạm dụng, thực hiện dàn trải như trươc đây gây lãng phí nguồn lực dành cho TGPL mà không đạt được mục đích chính của TGPL là bảo vệ quyền lợi của người dân trong các vụ việc cụ thể. Luật cũng đặt ra yêu cầu đối với đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý là viên chức nhà nước tập trung thực hiện vụ việc tố tụng thông qua quy định Trợ giúp viên pháp lý không thực hiện vụ việc tham gia tố tụng trong thời gian 02 năm liên tục sẽ bị miễn nhiệm, trừ trường hợp do nguyên nhân khách quan.

7. Tạo thuận lợi hơn cho người được TGPL

Luật có nhiều quy định mới đ tạo thuận lợi cho người dân tiếp cận và sử dụng dịch vụ, như: Quy định phải công bố danh sách người thực hiện TGPL, tổ chức thực hiện TGPL đ người dân biết và thực hiện quyền lựa chọn của mình. Ngoài hình thức nộp đơn trực tiếp, gửi qua đường bưu điện, người dân có thể nộp đơn yêu cầu qua hình thức điện tử, fax đ tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại; trong các tình huống cụ thể nếu gặp trường hợp cần được TGPL mà đối tượng có khó khăn không thể tự mình đến tổ chức thực hiện TGPL thì các tổ chức, cá nhân có thể thay mặt người được TGPL yêu cầu TGPL.

Luật TGPL năm 2017 quy định trường hợp thụ lý giải quyết ngay khi người yêu cầu chưa thể cung cấp hồ sơ theo quy định đ bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL, đó là các trường hợp vụ việc sắp hết thời hiệu, sắp đến ngày xét xử, hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của người thuộc diện được TGPL có nguy cơ bị thiệt hại.

8. Tăng cường trách nhiệm của cơ quan, tổ chức đối với hoạt động TGPL

Luật TGPL bổ sung một số quy định nhằm tăng cường trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức đối với hoạt động TGPL như sau:

- Quy định rõ trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng phối hợp tạo điều kiện cho người được TGPL được hưởng quyền TGPL, tạo điều kiện cho người thực hiện TGPL tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật. Trong thời hạn 12 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu trợ giúp pháp lý của người bị bắt, người bị tạm giữ hoặc trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu trợ giúp pháp lý của bị can, bị cáo, người bị hại là người được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về tố tụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tại địa phương. Đây là những nội dung quan trọng trong bối cảnh Bộ luật Tố tụng hình sự quy định việc chỉ định người bào chữa mở rộng cho những bị can, bị cáo về tội có khung hình phạt là 20 năm tù thì số lượng vụ việc được giới thiệu từ cơ quan tiến hành tố tụng sang Trung tâm TGPL nhà nước sẽ tăng lên.

- Đối với các cơ quan nhà nước có liên quan, Luật quy định trong quá trình thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của mình nếu phát hiện công dân thuộc diện được TGPL, cơ quan nhà nước có trách nhiệm giải thích quyền được TGPL và giới thiệu đến tổ chức thực hiện TGPL.

- Quy định trách nhiệm các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức chủ quản của tổ chức tư vấn pháp luật trong hoạt động TGPL.

9. Sắp xếp, tinh gọn các Chi nhánh của Trung tâm TGPL của Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động

Từ tổng kết thực tiễn thi hành Luật TGPL năm 2006, đ phù hợp với Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị, các quy định về Chi nhánh có sự điều chỉnh đ bảo đảm tinh gọn tổ chức, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả nguồn nhân lực và kinh phí dành cho TGPL tại các địa phương. Chi nhánh đã được thành lập theo Luật TGPL năm 2006 sẽ được rà soát, sắp xếp lại, sáp nhập hoặc giải thể bảo đảm hiệu quả hoạt động. Trường hợp thực sự cần thiết đ đáp ứng nhu cầu của nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập mới Chi nhánh. Điều kiện thành lập mới Chi nhánh được quy định chặt chẽ, theo đó, Chi nhánh chỉ được thành lập tại các huyện vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, giao thông không thuận tiện đến Trung tâm TGPL nước, chưa có tổ chức hành nghề luật sư; tổ chức tư vấn pháp luật tham gia TGPL.

Ngoài các nội dung trên đây, Luật TGPL năm 2017 còn pháp điển hóa một số quy định trong các văn bản dưới luật trong Luật TGPL liên quan đến người thực hiện TGPL; tổ chức thực hiện TGPL lĩnh vực TGPL và hoạt động TGPL. Luật cũng chuẩn hóa quyền, nghĩa vụ của các chủ thể; sửa đổi, bổ sung nguyên tắc hoạt động TGPL; chính sách của Nhà nước về TGPL; không quy định Quỹ TGPL; bổ sung một số hành vi bị nghiêm cấm.

V. TỔ CHỨC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN LUẬT